voi vang nhan chieu doi do hich tuong si thuyen ngoai xa

No replies
haigiacmo06
Title: NooBot
Joined: 05/04/2018
Posts:
BotPoints: 15
User offline. Last seen 2 weeks 2 days ago.

phan tich kho 2 cua bai voi vang
phân tích bài nhàn
dựa vào các văn bản chiếu dời đô và hịch tướng sĩ hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò
tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa
mị 

phan tich kho 2 cua bai voi vang
phân tích bài nhàn

Lí Công Uẩn (974 – 1028) quê ở châu cổ Pháp, lộ Bắc Giang, nay là làng Đình Bảng, huyện trong khoảng Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ông là người sáng tạo, nhân ái, mang chí to và lập được đa dạng võ công hiển hách. Dưới thời Tiền Lê, ông làm quan đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. khi vua Lê Ngọa Triều thăng hà, ông được quần thần tôn lên làm cho vua, xưng là Lí Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Năm Canh Tuất (1010), Lí Thái Tổ viết bài chiếu bộc bạch ý định dời đô trong khoảng Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay). tục truyền lúc thuyền nhà vua đến đoạn sông dưới chân thành thì chợt thấy mang rồng vàng bay lên. Cho là điềm lành, Lí Thái Tổ nhân ngừng thi côngĐây đổi tên Đại La thành Thăng Long.

Chiếu dời đô phản ảnh ý chí tự cường và khát vẳng về 1 đất nước độc lập, hợp nhất, vững mạnh của dân tộc Đại Việt. Bài chiếu với sức thuyết phục mạnh mẽ vì trên thuận ý trời, dưới hợp lòng người, có sự phối hợp phối hợp giữa lí có tình.

Chiếu là một loại văn bản cổ, nội dung thông tin 1 quyết định hay 1 mệnh lệnh nào ngừng thi côngĐây của vua chúa cho thần dân biết. Chiếu thường biểu lộ 1 tư tưởng lớn lao có ảnh hưởng đến vận mệnh triều đại, quốc gia. Chiếu dời đô cũng mang đa số đặc điểm trên nhưng bên cạnh đó, nó cũng với các nét riêng. chậm tiến độ là thuộc tính mệnh lệnh hài hòa hài hòa mang thuộc tính tâm tư. tiếng nói bài chiếu vừa là tiếng nói hành chính vừa là tiếng nói hội thoại.

Bố cục bài chiếu sở hữu thể chia khiến ba đoạn:

Đoạn một: từ đầu tới chẳng thể ko dời đổi: Tác kém chất lượng nêu các cứ liệu trong sử sách để làm cơ sở cho việc dời đô của mình.

Đoạn hai : Tiếp theo đến tư thế rẻ tươi: Tác kém chất lượng Phân tích thực tiễn là đế kinh cũ không còn phù hợp với sự mở mang vững mạnh của quốc gia vì vậy cần yếu phải dời đô.

Đoạn còn lại: Tác giả khẳng định thành Đại La là nơi hội đủ mọi điều kiện tiện lợi để chọn làm cho đế kinh mới.

Kết cấu đề cập trên tiêu biểu cho kết cấu của một bài văn nghị luận chính trị phố hội. Bằng phương thức lập luận sắc bén, chặt chẽ, lôgíc, tác kém chất lượng đã mô tả và thuyết phục mọi người đồng tình mang quyết định dời đô của mình. Để chứng minh quyết định dời đô là đúng đắn, tác fake nêu 1 số cứ liệu trong lịch sử cổ kim để củng cố lí lẽ, tăng thêm khả năng thuyết phục.

Để giải tỏa tâm cảnh băn khoăn của không ít người trước việc dời đô, tác giả khẳng định dời đô là việc khiến thường xuyên xảy ra trong lịch sử các triều đại phong kiến trong khoảng trước tới nay. Lí Công uẩn cứ liệu gương các triều vua thời cổ đại bên Trung Quốc cũng đã từng dời đô

Xưa nhà Thương tới vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu tới vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu những vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự ý chuyển dời ? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân nếu thấy thuận tiện thì đổi thay. thành ra vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh.

Đoạn này nêu tiền đề khiến cho chỗ dựa cho lí lẽ mà tác kém chất lượng sẽ diễn đạt ở các phần tiếp theo. Trong lịch sử phong kiến phương Bắc đã từng với chuyện dời đô và đem lại những kết quả rẻ đẹp, bởi thế việc dời đô của Lí Thái Tổ không hề là chuyện thất thường.

Nhà vua khẳng định những bậc đế vương lúc quyết định dời đô đều nhằm mục đích mưu đồ nghiệp to, xây dựng vương triều hưng thịnh, tính kế trong khoảng thời gian dài cho quốc gia, dân tộc. Việc dời đô trên thì thuận theo mệnh trời (tức phù hợp mang quy luật khách quan), dưới thì thuận theo ý dân (phù hợp mang ước vọng của nhân dân) nôn kết quả là đều đem đến sự vững mạnh hưng vượng vượng cho đất nước dân tộc.

Qua việc đưa ra các lí lẽ và cứ liệu đó, tác nhái khẳng định việc thay đổi kinh kì đối với triều đại nhà Lí là 1 tất yếu khách quan. Ý định dời đô của Lí Công Uẩn bắt nguồn trong khoảng thực tiễn lịch sử đồng thời diễn đạt ý chí mãnh liệt của nhà vua cũng như của dân tộc ta hồi chậm tiến độ. Nhà vua muốn xây dựng và vững mạnh Đại Việt thành 1 quốc gia hùng mạnh trong tương lai.

Dựa vào óc Quan sát, Nhận định kĩ lưỡng tình hình thực tiễn, ông nêu ra những nhận xét với thuộc tính phê phán: thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến triều đại ko được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích ứng. Trẫm rất chua xót về việc chậm tiến độ, chẳng thể ko dời đổi.

Theo ông, nếu như cứ để kinh đô ở chỗ cũ thì sẽ phạm những sai lầm như không đáp ứng quy luật khách quan: lại theo ý riêng mình khinh thường mệnh trời; ko biết học theo mẫu đúng của người xưa: không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng im đô thành ở nơi đây. Hậu quả là triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi… Tóm lại, đế đô của đất nước Đại Việt không thể phát triển thịnh vượng trong một vùng đất chật hẹp như thế.

Trước các biến động của nước nhà, hàng loạt những chiếu của nhà vua được ban xuống để ngày nay trở nên những tác phẩm hay mang trị giá trong nền văn học Việt Nam. cộng có Chiếu cầu hiền của vua quang đãng Trung thì chúng ta còn được biết đến Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn. Bài chiếu ko chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà nó còn mang đa dạng nét văn chương trong Đó. Lý Công Uẩn lừng danh là một nhà vua sáng tạo có nhân với trí lớn và lập được nhiều chiến công hiển hách. khi vua Lê Ngọa Triều thăng hà, ông được triều thần tôn lên khiến vua, xưng là Lí Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ viết bài chiếu giãi bày ý định dời đô trong khoảng Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay).

tương truyền lúc thuyền nhà vua tới đoạn sông dưới thành tâm thì chợt thấy với rồng vàng bay lên. Cho là điềm lành, Lý Thái Tổ nhân Đó đổi tên Đại La thành Thăng Long.

Chiếu là 1 dòng văn bản cổ, nội dung thông tin 1 quyết định hay 1 mệnh lệnh nào chậm tiến độ của vua chúa cho thần dân biết. Chiếu thường biểu đạt một tư tưởng to lao có tác động tới vận mệnh triều đại, đất nước. Chiếu dời đô cũng với phần lớn đặc điểm trên nhưng không những thế, nó cũng với những nét riêng. ngừng thi côngĐây là tính chất mệnh lệnh kết hợp kết hợp với thuộc tính tâm sự. ngôn ngữ bài chiếu vừa là ngôn ngữ hành chính vừa là ngôn ngữ đối thoại. Cũng như chế và biểu, chiếu được viết bằng tản văn, chữ Hán, gọi là cổ thể; từ đời các con phố (Trung Hoa) mới theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây).

Kết cấu của bài Chiếu dời đô cũng là lớp lang lập luận của tác kém chất lượng. trình tự lập luận này rất chặt chẽ, có sức thuyết phục to. Phần mở đầu tác fake nêu sử sách khiến cho chỗ dựa cho lí lẽ : trong lịch sử đã từng với chuyện dời đô và đã từng mang đến kết quả thấp đẹp. Phần 2, soi sử sách vào tình hình thực tiễn để chỉ rõ việc hai triều Đinh, Lê cứ đóng im đô thành ở vùng rừng núi Hoa Lư là ko theo mệnh trời (tức không phù hợp mang quy luật khách quan). Hậu quả là triều đại ngắn ngủi, quốc gia ko phát triển, người dân khốn khổ trong 1 vùng đất chật chội. Phần cuối rút ra kết luận : nhu yếu phải dời đô và thành Đại La là nơi định đô tốt nhất, bởi vì đây là nơi có lợi thế về đa số các mặt địa lí, chính trị, văn hoá,... Kết câu ba phần nhắc trên rất tiêu biểu cho kết câu văn nghị luận tổng thể, văn chính luận nhắc riêng. Chiếu dời đô thuộc thể văn nghị luận, với kết câu ba phần. Phần khai mạc nêu sử sách làm cho tiền đề. Phần 2 soi sáng tiền đề vào thực tại 2 triều đại Đinh, Lê. Phần kết luận khẳng định thành Đại La là nơi rẻ nhất để định đô.

3. Câu 3, trang 51, SGK.

Trả lời:

Thành Đại La là nơi định đô tốt nhất:

- Thành Đại La với thế “rồng cuộn hổ ngồi” : theo thuyết phong thuỷ của người xưa thì đây là thế đất đẹp, thiêng, sẽ phát triển hưng vượng vượng.

- Thành Đại La mang lợi thế về gần như các mặt địa lí, chính trị, văn hoá. Về địa lí: ở nơi trọng tâm, mở ra bốn hướng, mang cả đồng bằng, sông, núi, vừa nhiều, vừa cao ráo, giảm thiểu được nạn lụt lội, chật chội, về chính trị, văn hoá : là làm mối giao lưu “chốn tập hợp hiểm yếu của bốn phương đất nước”, “muôn vật cũng rất đỗi phong phú rẻ tươi”.

4.Chiếu là lời công bố mệnh lệnh của vua chúa xuống thần dân. Thế nhưng kết thúc Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn không ra mệnh lệnh mà đặt thắc mắc : "Các khanh nghĩ thế nào ?" Theo em, cách kết thúc tương tự với tác dụng gì ?

Trả lời:

chấm dứt Chiếu dời đô, Lí Công Uẩn không ra mệnh lệnh nhưng mà đặt câu hỏi: "Các khanh nghĩ thế nào ?". cách thức chấm dứt mang tính chất hội thoại, thảo luận đã tạo sự đồng cảm giữa vua mang các quan và thần dân. Việc dời đô đâu chỉ là ý nguyện riêng của Lí Công uẩn mà còn phù hợp có nguyện vọng chung của mọi người, ở Chiếu dời đô, kế bên tính chất mệnh lệnh còn là tính chất tâm can. bởi vậy, Chiếu dời đô có sức mạnh thuyết phục người nghe bằng cả lí trí và tình cảm.

5. tại sao kể Chiếu dời đô phản chiếu ý chí độc lập tự cường và sự vững mạnh tăng trưởng của dân tộc Đại Việt ?

Trả lời:

Chiếu dời đô thành lập là sự phản chiếu ý chí độc lập tự cường và sự lớn mạnh tăng trưởng của dân tộc Đại Việt. Bởi lẽ hai triều Đinh, Lê trước Đó thế và lực chưa đủ mạnh nên còn phải dựa vào vùng núi rừng Hoa Lư hiểm trở. Việc nhà Lí dời đô trong khoảng Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng Thăng Long chứng tỏ thế và lực của dân tộc Đại Việt đã đủ mạnh để sánh ngang hàng sở hữu phương Bắc. Định đô ở nơi trung tâm quốc gia là thực hiện hoài vọng của dân chúng vun đắp 1 đất nước hợp nhất, hùng cường. Chọn mảnh đất là nơi “trung tâm trời đất” để có điều kiện mở mang kinh kì cho thấy khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà tăng trưởng. Tầm vóc lớn của quốc gia cần mang tầm vóc to của một thủ đô tương xứng và trái lại, tầm vóc to của thủ đô tạo đà cho quốc gia phát triển.

kinh thành mới với tên là Thăng Long vừa phản chiếu ý nguyện vươn lên vừa cho thấy khí thế rồng bay lên của 1 dân tộc độc lập, tự cường.

dựa vào các văn bản chiếu dời đô và hịch tướng sĩ hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò
tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa

mị